Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 4/2026

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & MT, tình hình chăn nuôi tháng 4/2026 tiếp tục xu hướng của các tháng trước, trong đó, chăn nuôi lợn và gia cầm duy trì tăng trưởng, trong khi chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp khó khăn và có xu hướng giảm.

– Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, tổng đàn lợn cả nước cuối tháng 4/2026 ước tính tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có đàn lợn tăng khá nhờ phát triển mạnh mô hình chăn nuôi trang trại, đồng thời kiểm soát tốt dịch bệnh: Gia Lai tăng 7,4%; Lâm Đồng tăng 7,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,4%; Bắc Ninh và Phú Thọ tăng 3,2%; Lào Cai tăng 2,7%. Tuy nhiên, khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ còn đối mặt với khó khăn do chi phí thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y còn cao, trong khi dịch tả lợn châu Phi vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát cục bộ.

– Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, giá bán duy trì ở mức cao. Các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn mở rộng sản xuất, bảo đảm nguồn cung cho thị trường. Tổng số gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng Tư ước tính tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó đàn gà tăng 3,3%. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng khá: Nghệ An tăng 6,9%; Thanh Hóa tăng 5,5%; Phú Thọ tăng 4,2%; Bắc Ninh tăng 3,3%; Đồng Nai tăng 3,2%.

 Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả bị thu hẹp, quy mô đàn giảm. Tổng số trâu của cả nước thời điểm cuối tháng 4/2026 ước tính giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

Một số tỉnh có đàn trâu giảm nhiều là: Thanh Hóa giảm 11,2%; Quảng Ngãi giảm 8,7%; Lai Châu giảm 8,2%; Phú Thọ giảm 4,6%; Cao Bằng giảm 3,3%; Tuyên Quang giảm 3,2%. Tổng số bò của cả nước cuối tháng Tư giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thanh Hóa giảm 10,1%; Khánh Hòa giảm 4,3%; Phú Thọ giảm 3,6%; Sơn La giảm 3%.

– Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 61,8 triệuUSD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 245 triệu USD, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 62,2 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 73,5 triệu USD, tăng 16,5%.

– Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 472,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,75 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 578,6 triệu USD, tăng 28,1%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 679 triệu USD, tăng 20%.

– Về thú y: Trong tháng 4/2026, các bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát; các ổ dịch phát sinh chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi chưa bảo đảm điều kiện an toàn sinh học và tiêm phòng chưa đầy đủ. Cụ thể tình hình dịch bệnh như sau:

 Bệnh Dịch tả lợn châu Phi, tại thời điểm cuối tháng 4/2026, cả nước có 83 ổ dịch tại 23 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 4/2026, cả nước xảy ra 445 ổ dịch tại 25 tỉnh, thành phố, với tổng số lợn chết và buộc tiêu hủy là 38.879 con.

– Bệnh Cúm gia cầm, tại thời điểm cuối tháng 4/2026, cả nước có 1 ổ dịch tại Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 4/2026, cả nước xảy ra 14 ổ dịch tại 7 tỉnh, thành phố, với số gia cầm chết và buộc tiêu hủy là 58.914 con.

– Bệnh Lở mồm long móng, tại thời điểm cuối tháng 4/2026, cả nước có 2 ổ dịch tại các tỉnh Đồng Tháp và Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 4/2026, cả nước xảy ra 4 ổ dịch tại 3 tỉnh, thành phố, với số gia súc chết và buộc tiêu hủy là 10 con.

– Bệnh Viêm da nổi cục, tại thời điểm cuối tháng 4/2026, cả nước có 2 ổ dịch tại Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 4/2026, cả nước xảy ra 22 ổ dịch tại 4 tỉnh, thành phố, với số gia súc chết và buộc tiêu hủy là 49 con.

– Bệnh Dại động vật, tại thời điểm cuối tháng 4/2026, cả nước có 13 ổ dịch tại 7 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 4/2026, cả nước xảy ra 78 ổ dịch tại 17 tỉnh, thành phố, với số động vật buộc tiêu hủy là 143 con.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại)

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Thịt lợn: Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động tăng trong tháng 4/2026. So với tháng 3/2026, giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 1.800 đồng/kg lên 64.000 – 66.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên tăng 1.600 đồng/kg, dao động trong khoảng 63.000 – 69.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam tăng 2.200 đồng/kg, hiện đang ở mức 68.000 – 69.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tăng do nhu cầu tiêu thụ khởi sắc. Dự báo trong ngắn hạn, giá lợn hơi có thể tiếp tục duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ tại một số khu vực.

Thịt gà: Giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giảm 2.200 đồng/kg xuống mức 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung giảm 4.500 đồng/kg, hiện ở mức 43.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam giảm 300 đồng/kg xuống còn 45.000 đồng/kg. Giá gà có xu hướng giảm do nguồn cung tăng mạnh trong khi sức mua phục hồi chậm.

Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm 9.000 đồng/kg xuống 19.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung tăng 5.000 đồng/kg lên mức 27.000 đồng/kg Giá gà công nghiệp miền Nam tăng 2.000 đồng/kg, hiện là 29.000 đồng/kg.

Giá thu mua trứng gà biến động giảm tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc giảm 300 đồng/quả xuống 1.300 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung giảm 380 đồng/quả, hiện ở mức 1.430 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam giảm 200 đồng/quả xuống 1.430 đồng/quả. Giá trứng giảm do nguồn cung dư thừa trong khi sức mua yếu.

Thức ăn chăn nuôi: Giá cám gạo tại ĐBSCL trong tháng 4/2026 giảm 600 – 900 đồng/kg so với tháng 3/2026 do nguồn cung dồi dào bởi tồn kho tại các nhà máy xay xát duy trì ở mức cao, nhu cầu thu mua của các nhà máy thức ăn chăn nuôi chậm. Giá cám khô tháng 4/2026 đạt 6.800 đồng/kg, giảm 900 đồng/kg; cám hỗn hợp 6.800 đồng/kg, giảm 700 đồng/kg và cám ướt 6.900 đồng/kg, giảm 800 đồng/kg.

Sản phẩm chăn nuôi: Trong tháng 4/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 5/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 3,95 US cent/lb lên 94,375 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trưởng mạnh mẽ.

Trong tháng 4/2026, giá bò hơi kỳ hạn tháng 6/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) tăng 5,925 US cent/lb lên 248,95 US cent/lb. Nguồn cung thịt bò khan hiếm đã thúc đẩy giá bò hơi tăng.

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU 

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 61,8 triệuUSD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 245 triệu USD, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 62,2 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 73,5 triệu USD, tăng 16,5%.

Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 4 năm 2026 ước đạt 472,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,75 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 578,6 triệu USD, tăng 28,1%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 679 triệu USD, tăng 20%.

Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu

Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 4 năm 2026 ước đạt 313,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,32 tỷ USD, giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Hoa Kỳ, Áchentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 23,8%, 20,2% và 10,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 42,3%, thị trường Trung Quốc tăng 35,4%, trong khi thị trường Áchentina giảm 59%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canađa với mức tăng 4,4 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Áchentina với mức giảm 59%.

 – Nhập khẩu ngô

Khối lượng nhập khẩu ngô tháng 4 năm 2026 ước đạt 496,2 nghìn tấn với giá trị đạt 128,1 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 4 tháng đầu năm 2026 đạt 4,1 triệu tấn và 1,03 tỷ USD, tăng 37,8% về khối lượng và tăng 32,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá ngô nhập khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 248,8 USD/tấn, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Braxin và Áchentina là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 59,7% và 17,6%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 2,2 lần và thị trường Áchentina giảm 26,9%.

– Nhập khẩu đậu tương

Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 4 năm 2026 ước đạt 192,1 nghìn tấn với giá trị đạt 91,7 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 4 tháng đầu năm 2026 đạt 1,1 triệu tấn và 529,3 triệu USD, tăng 58,1% về khối lượng và tăng 66,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 475,9 USD/tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Hoa Kỳ và Braxin với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 59% và 30,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 57,1%, thị trường Braxin tăng 2,3 lần.

– Nhập khẩu lúa mì

Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 4 năm 2026 ước đạt 1,4 triệu tấn với giá trị đạt 344,5 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 4 tháng đầu năm 2026 đạt 4,2 triệu tấn và 1,08 tỷ USD, tăng 75,6% về khối lượng và tăng 69,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 255,4 USD/tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam là từ các thị trường Ôxtrâylia, Braxin, Canađa, và Hoa Kỳ với thị phần lần lượt là 17,6%, 12,6%, 8,7%, và 4,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu lúa mì 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Ôxtrâylia tăng 49,6%, thị trường Canađa tăng 3,4 lần, thị trường Hoa Kỳ tăng 92,8%, trong khi thị trường Braxin giảm 56,7%.

Tổng hợp: Channuoivietnam.com

(https://channuoivietnam.com/portal-news-detail/e7bce758-9da7-4b7e-9389-bde96c95de83, ngày 11/5/2026)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *