Gia cầm Việt Nam trước ngưỡng 2027: Không thể mãi cạnh tranh bằng “giá rẻ”

Năm 2027 có thể mở ra một giai đoạn cạnh tranh mới của ngành gia cầm Việt Nam, khi lợi thế “nuôi rẻ” không còn đủ để bảo đảm lợi nhuận. Trong bối cảnh yêu cầu về môi trường, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc và chất lượng ngày càng cao, ngành gia cầm buộc phải tái cấu trúc từ sản xuất, liên kết chuỗi đến chế biến và thị trường. Bài toán đặt ra không còn là làm thế nào để giảm thêm chi phí, mà là làm thế nào để giữ lại nhiều giá trị hơn trên mỗi kg sản phẩm.

Theo TS. Nguyễn Thanh Sơn – Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam “Ngành gia cầm Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ, nhưng cũng đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Trong 5-10 năm tới, nếu tiếp tục tư duy sản xuất, kinh doanh theo kiểu cũ, chúng ta sẽ tự thua ngay trên sân nhà”.

Ngành gia cầm trước nghịch lý “nuôi rẻ nhưng khó có lãi”

Điểm đáng chú ý trong nhận định của TS. Nguyễn Thanh Sơn là vị thế chi phí của ngành gia cầm Việt Nam. Với chi phí sản xuất khoảng 1,06 USD/kg, Việt Nam đứng thứ 2/18 quốc gia được so sánh về khả năng tối ưu chi phí, chỉ sau Ấn Độ (1,05 USD/kg) và tương đương nhóm thấp nhất như Pakistan (1,07 USD/kg). Mức chi phí này cho thấy dư địa tiếp tục “ép” giá thành của ngành không còn nhiều.

Tuy nhiên, lợi thế chi phí chưa chuyển hóa thành lợi nhuận tương xứng. Với gà lông trắng, Việt Nam có chi phí khoảng 1,06 USD/kg, giá bán 1,14 USD/kg, biên lợi nhuận chỉ 0,08 USD/ kg, tương đương tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 7,5%. Trong khi đó, Campuchia có chi phí cao hơn, khoảng 1,20 USD/kg, nhưng giá bán lên tới 1,70 USD/kg, tạo biên lợi nhuận 0,50 USD/ kg và tỷ suất 41,6%.

Như vậy, Campuchia có chi phí cao hơn Việt Nam 0,14 USD/kg nhưng biên lợi nhuận tuyệt đối cao hơn nhiều lần. Khoảng cách này cho thấy năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở chi phí sản xuất, mà còn ở khả năng điều tiết nguồn cung, tổ chức chuỗi và gia tăng giá trị sản phẩm.

“Chi phí sản xuất thấp không đồng nghĩa với giá trị đầu ra cao”, TS. Nguyễn Thanh Sơn nhấn mạnh, đồng thời cảnh báo nguy cơ “bẫy giá rẻ”: sản xuất rẻ nhưng bán rẻ, cạnh tranh bằng giá thay vì tạo thêm giá trị.

Theo TS. Nguyễn Thanh Sơn, ngành cần chuyển từ phòng thủ bằng cắt giảm chi phí sang gia tăng giá trị, thông qua liên kết chặt chẽ từ trang trại đến bàn ăn, kiểm soát nguồn cung, nâng cao chất lượng, kiểm soát dịch bệnh, đẩy mạnh chế biến sâu và phát triển thị trường.

“Lợi thế cạnh tranh của thập kỷ tới không được đo bằng việc ai nuôi rẻ hơn, mà bằng việc ai giữ lại được nhiều giá trị gia tăng nhất trên mỗi kg sản lượng”, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam nhận định.

Ba kịch bản của ngành gia cầm được dự báo cho năm 2027

Với 4 tháng cuối năm 2026, TS. Nguyễn Thanh Sơn dự báo, thị trường sẽ tích cực hơn từ tháng 9, sản lượng dự kiến tăng dần, khoảng 53.500-59.300 tấn/tháng. Riêng 4 tháng cuối năm, sản lượng dự kiến bổ sung khoảng 338.000 tấn gà lông trắng; 406.000 tấn gà lông màu; 222.000 tấn vịt thịt và 7,7 tỷ quả trứng. Ước tính cả năm, sản lượng gà lông trắng đạt khoảng 959.000 tấn; gà lông màu 1,15 triệu tấn; vịt thịt 630.000 tấn và trứng khoảng 22,5 tỷ quả.

“Mặc dù ngành gặp khó khăn trong giai đoạn tháng 3 đến tháng 6, nhưng nhìn chung vẫn duy trì được tăng trưởng. Trong 12 tháng của năm 2026, ngành dự kiến đạt được mục tiêu mà ngành nông nghiệp đề ra”, TS. Nguyễn Thanh Sơn nhận định.

Bước sang năm 2027, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam đưa ra 3 kịch bản với mức tăng trưởng khác nhau tùy thuộc vào khả năng thích ứng của ngành trước các yêu cầu mới về pháp lý, môi trường, công nghệ, liên kết chuỗi và thị trường.

Kịch bản 1: Tăng trưởng 3-3,5% (khả năng xảy ra cao nhất)

Với xác suất 55-60%, đây là kịch bản toàn ngành thích ứng tương đối ổn định với các yêu cầu mới về pháp lý, môi trường và quản lý chăn nuôi. Sản lượng thịt dự kiến đạt 2.829.049 tấn, tăng khoảng 3-3,5%; sản lượng trứng khoảng 23.231 triệu quả. Đây là kịch bản cơ sở, phản ánh ngành tiếp tục tăng trưởng nhưng chưa tạo được bước đột phá rõ rệt về công nghệ, liên kết chuỗi và thị trường.

Kịch bản 2: Tăng trưởng 4,5-5% (kịch bản ngành mong muốn)

Có xác suất 25-30%, kịch bản này được kỳ vọng khi các chuỗi liên kết khép kín phát triển mạnh, công nghệ được tối ưu và thị trường xuất khẩu mở rộng thành công. Khi đó, sản lượng thịt có thể tăng 4,5-5%, đạt khoảng 2.870.149 tấn, trong khi sản lượng trứng đạt 23.568 triệu quả.

Kịch bản 3: Tăng trưởng dưới 1,5%

Có xác suất 10-15%, kịch bản này xảy ra nếu ngành đồng thời chịu sức ép từ chi phí đầu vào tăng cao, dịch bệnh hoặc tiến độ di dời các cơ sở chăn nuôi không đạt chuẩn chậm. Khi đó, tăng trưởng có thể dưới 1,5%, với sản lượng thịt khoảng 2.767.402 tấn và trứng 22.725 triệu quả.

Theo TS. Nguyễn Thanh Sơn, kịch bản 2 là hướng đi ngành gia cầm mong muốn, nhưng kịch bản 1 vẫn có khả năng xảy ra cao nhất. Ba kịch bản cho thấy, dư địa tăng trưởng vẫn còn, song động lực tăng trưởng sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực tổ chức lại sản xuất, thay vì chỉ mở rộng quy mô. Nếu tiếp tục chạy đua xuống “đáy chi phí”, ngành có nguy cơ mắc kẹt trong vòng xoáy “sản xuất rẻ – bán rẻ”. Ngược lại, liên kết chuỗi, tối ưu công nghệ, nâng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ là những yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa kịch bản tăng trưởng 4,5-5%.

Ngành gia cầm chuẩn bị bước vào cuộc chơi mới với yêu cầu tuân thủ cao hơn

Bên cạnh cung – cầu và chi phí đầu vào, môi trường pháp lý sẽ trở thành một biến số quan trọng đối với ngành gia cầm từ năm 2027. Các yêu cầu về quản lý chăn nuôi, xử lý chất thải, an toàn sinh học, sử dụng thuốc và minh bạch dữ liệu đang tác động ngày càng trực tiếp đến chi phí và phương thức vận hành của trang trại.

Một số quy định mới đã và đang tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn cho ngành. Nghị định 211/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi được ban hành ngày 16/6/2026, có hiệu lực từ 5/8/2026. Trong lĩnh vực môi trường, QCVN 62:2025/ BTNMT về nước thải chăn nuôi có hiệu lực từ ngày 01/9/2025, quy định các giới hạn ô nhiễm trong nước thải khi xả ra nguồn tiếp nhận. Cùng với đó, các quy định trong Luật Chăn nuôi, Luật Thú y và Quyết định 1121/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia phòng, chống kháng thuốc giai đoạn 2023-2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý, phòng chống dịch bệnh, sử dụng thuốc và kiểm soát dư lượng.

Trong ngắn hạn, các yêu cầu mới có thể làm tăng chi phí tuân thủ, nhất là đối với cơ sở nhỏ, công nghệ thấp hoặc nằm tại những khu vực không còn phù hợp với định hướng phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, về dài hạn, đây cũng là động lực để ngành tái cấu trúc theo hướng chuyên nghiệp, tăng cường an toàn sinh học, kiểm soát môi trường và minh bạch hóa chuỗi.

Đối với vấn đề này, một số chuyên gia và doanh nghiệp nhấn mạnh yêu cầu nâng cấp chuồng trại, tăng cường an toàn sinh học, tối ưu vaccine, chủ động nguồn giống và dinh dưỡng. Đại diện Dabaco cũng lưu ý nhu cầu tiêu dùng ngày càng phân hóa, với yêu cầu cao hơn về an toàn, chất lượng, hương vị và kiểm soát kháng sinh; trong đó, phân khúc gà trứng còn nhiều tiềm năng phát triển.

Về dài hạn, ngành cần xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh theo chuẩn quốc tế, đồng thời phát triển song song thị trường nội địa và xuất khẩu thông qua các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Từ “đáy chi phí” đến “đỉnh giá trị” sẽ là bài toán lớn của ngành gia cầm Việt Nam trong 5-10 năm tới: quy mô lớn hơn, công nghệ cao hơn, xanh hơn, minh bạch hơn và quan trọng nhất là giữ lại được nhiều giá trị hơn trên mỗi kilogam sản phẩm.

Phạm Huệ

Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam

(https://nhachannuoi.vn/gia-cam-viet-nam-truoc-nguong-2027-khong-the-mai-canh-tranh-bang-gia-re/, ngày 28/9/2026)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *