Tổng điều tra 2025: Ngành chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất

Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy ngành chăn nuôi tiếp tục chuyển dịch theo hướng mở rộng quy mô sản xuất với số lượng trang trại và quy mô đàn vật nuôi đều tăng. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ, chuồng trại khép kín, tiêu chuẩn an toàn sinh học và liên kết sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi phương thức chăn nuôi trong thời gian tới.

Quy mô chăn nuôi tiếp tục mở rộng, số lượng trang trại tăng

Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, đến thời điểm 1/7/2025, cả nước có 13.834 trang trại chăn nuôi, tăng 2.146 trang trại so với năm 2020. Tuy nhiên, tỷ trọng trang trại chăn nuôi trong tổng số trang trại cả nước giảm từ 56,71% năm 2020 xuống 48,80% năm 2025, trong bối cảnh tổng số trang trại cả nước tăng 37,53%, lên 28.347 trang trại.

Quy mô chăn nuôi tiếp tục mở rộng, số lượng trang trại tăng

Số lượng trang trại phân bố không đồng đều giữa các vùng. Đồng bằng sông Hồng tiếp tục là khu vực có nhiều trang trại chăn nuôi nhất với 5.428 trang trại, tiếp đến là Trung du và miền núi phía Bắc với 2.315 trang trại, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có 2.019 trang trại, Bắc Trung Bộ có 1.419 trang trại và Đồng bằng sông Cửu Long có 715 trang trại. Riêng khu vực Đông Nam Bộ ghi nhận số lượng trang trại giảm từ 2.553 xuống còn 1.938 trang trại trong giai đoạn 2020-2025.

Bên cạnh sự gia tăng về số lượng trang trại, quy mô chăn nuôi tại khu vực hộ cũng có xu hướng mở rộng. Tỷ lệ hộ nuôi từ 50 con lợn trở lên tăng từ 2,55% năm 2016 lên 4,16% năm 2025. Đối với chăn nuôi gia cầm, tỷ lệ hộ nuôi từ 100 con gà trở lên tăng từ 4,61% lên 8,20%, phản ánh xu hướng phát triển các mô hình chăn nuôi quy mô lớn hơn.

Về hiệu quả sản xuất, bình quân một trang trại chăn nuôi (không bao gồm trang trại gia công) sử dụng 2,98 lao động, đạt giá trị thu từ chăn nuôi 5.432 triệu đồng và giá trị sản phẩm bán ra đạt 5.379 triệu đồng. Đông Nam Bộ là vùng có giá trị thu bình quân cao nhất với 9.423 triệu đồng/trang trại, trong khi xét theo địa phương, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Lạng Sơn và Tây Ninh là những địa phương có giá trị thu bình quân dẫn đầu cả nước.

Ứng dụng công nghệ và chăn nuôi an toàn sinh học vẫn là điểm nghẽn

Mặc dù quy mô sản xuất được mở rộng, việc ứng dụng công nghệ trong chăn nuôi hộ vẫn ở mức khá thấp. Theo điều tra, chỉ có 9,96% số hộ nuôi trâu, 17,5% số hộ nuôi bò, 18,22% số hộ nuôi lợn và 11,75% số hộ nuôi gà áp dụng các giải pháp công nghệ trong sản xuất. Các ứng dụng chủ yếu gồm hệ thống theo dõi chuồng nuôi, cho ăn và uống tự động, thiết bị vệ sinh chuồng trại, xử lý chất thải, phần mềm quản lý vật nuôi và truy xuất nguồn gốc bằng chip điện tử, đeo vòng hoặc dán tem.

Theo điều tra, chỉ có 9,96% số hộ nuôi trâu, 17,5% số hộ nuôi bò, 18,22% số hộ nuôi lợn và 11,75% số hộ nuôi gà áp dụng các giải pháp công nghệ trong sản xuất.

Tỷ lệ hộ đầu tư hệ thống chuồng trại khép kín, tự động hóa trong cho ăn, kiểm soát nhiệt độ và xử lý chất thải cũng còn hạn chế, mới đạt 9,8% đối với chăn nuôi lợn và 11,8% đối với chăn nuôi gà. Phần lớn các hộ vẫn duy trì phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ. Trên phạm vi cả nước, khu vực hộ hiện có khoảng 101,2 nghìn hệ thống máng ăn tự động và 66,7 nghìn hệ thống làm mát chuồng trại.

Về trang thiết bị phục vụ sản xuất, cả nước có 55.117 máy chế biến thức ăn gia súc, trong đó hộ gia đình sở hữu 54.010 máy, trang trại 2.046 máy, doanh nghiệp 793 máy và hợp tác xã 314 máy. Số máy ấp trứng gia cầm là 15.255 chiếc (hộ 13.048, doanh nghiệp 2.120, trang trại 1.449, hợp tác xã 87). Cả nước cũng có 6.353 máy vắt sữa, tập trung chủ yếu ở khu vực hộ với 6.240 máy, trang trại 676 máy, còn lại ở doanh nghiệp và hợp tác xã.

Hệ thống cung ứng giống vật nuôi cũng có sự thay đổi theo hướng tập trung hơn. Tính theo đơn vị hành chính mới tại thời điểm 01/7/2025, cả nước có 1.001 xã có điểm cung cấp giống vật nuôi, chiếm 38,02% tổng số xã theo đơn vị hành chính mới. Báo cáo cho thấy mạng lưới cung ứng giống ngày càng gắn với các doanh nghiệp, cơ sở chăn nuôi giống quy mô lớn và hệ thống trang trại, đồng thời một phần nhu cầu giống được đáp ứng thông qua các kênh liên kết trực tiếp với doanh nghiệp.

Đối với công tác thú y, theo đơn vị hành chính mới, có 95,97% tổng số xã có cán bộ thú y; 28,39% số thôn có cộng tác viên thú y và 78,54% số xã có người hành nghề thú y tư nhân, góp phần bổ sung nguồn lực cho hoạt động chăm sóc và phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi.

Một điểm đáng chú ý là việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn vẫn còn khá khiêm tốn. Cả nước hiện có 1.308 trang trại, hộ chăn nuôi đạt chứng nhận VietGAP và chỉ khoảng 2,2% số trang trại chăn nuôi áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học hoặc các tiêu chuẩn tương đương VietGAP.

Theo Tổng điều tra, những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, khả năng tài chính của người chăn nuôi còn hạn chế, chi phí đầu tư công nghệ cao lớn, trình độ tiếp cận công nghệ chưa đồng đều và hệ thống chuyển giao kỹ thuật tại một số địa phương chưa phát triển. Đối với các tiêu chuẩn như VietGAP, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt, chi phí chứng nhận cao và đầu ra chưa ổn định cũng là những rào cản khiến nhiều cơ sở chăn nuôi chưa mạnh dạn áp dụng.

Liên kết sản xuất từng bước mở rộng nhưng chưa đồng đều

Kết quả điều tra cho thấy đến ngày 1/7/2025, cả nước có 4.329 trang trại chăn nuôi tham gia liên kết trong sản xuất. Trong đó, doanh nghiệp là đối tác liên kết chủ yếu với 3.302 trang trại, chiếm hơn 76% số trang trại có liên kết. Hình thức phổ biến nhất là liên kết cung ứng vật tư, giống, thức ăn chăn nuôi và các dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất.

Ở khâu tiêu thụ, có 6.232 trang trại tham gia liên kết, tương đương khoảng 22% tổng số trang trại trên cả nước. Doanh nghiệp tiếp tục là đối tác tiêu thụ quan trọng nhất với 4.028 trang trại liên kết, trong khi liên kết với cá nhân, hộ gia đình và hợp tác xã vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Đối với khu vực hộ, hoạt động tiêu thụ sản phẩm vẫn chủ yếu thông qua các kênh truyền thống như thương lái và hộ trung gian; tỷ lệ liên kết với doanh nghiệp và hợp tác xã tuy đã hình thành nhưng chưa cao.

Theo đánh giá của Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi thông qua việc cung ứng đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức sản xuất và kết nối thị trường. Trong khi đó, các trang trại có mức độ liên kết cao hơn so với khu vực hộ nhờ quy mô sản xuất lớn và nhu cầu ổn định hơn về vật tư cũng như đầu ra sản phẩm. Việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại và hộ chăn nuôi được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định thị trường tiêu thụ và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững.

Lan Hương

Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam

(https://nhachannuoi.vn/tong-dieu-tra-2025-nganh-chan-nuoi-mo-rong-quy-mo-nhung-cham-doi-moi-cong-nghe/, ngày 7/8/2026)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *